Đề Thi Học Kỳ 2 Môn Văn 10-Đề 3

0
31

Đề Thi Học Kỳ 2 Môn Văn 10-Đề 3

Câu 1: (2,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Mẹ!

Có nghĩa là duy nhất
Một bầu trời

Một mặt đất

Một vầng trăng
Mẹ không sống đủ trăm năm
Nhưng đã cho con dư dả nụ cười tiếng hát […]

 

Mẹ!

Có nghĩa là ánh sáng
Một ngọn đèn thắp bằng máu con tim
Mẹ!

Có nghĩa là mãi mãi
Là cho – đi – không – đòi lại – bao giờ…

(Trích “Ngày xưa có mẹ” – Thanh Nguyên)

  1. Xác định phong cách ngôn ngữ chủ yếu của văn bản. (0,25 điểm)
  2. Nêu tên và tác dụng của 02 biện pháp tu từ trong văn bản. (0,5 điểm)
  3. Anh / chị hiểu như thế nào về những câu thơ: “Mẹ! Có nghĩa là duy nhất. / Một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng.” (0,25 điểm)
  4. Từ dòng cuối của đoạn thơ “Mẹ! Có nghĩa là mãi mãi / Là cho – đi – không – đòi lại – bao giờ”, anh / chị hãy viết đoạn văn ngắn từ 5 – 10 câu trình bày suy nghĩ của mình về tình mẹ. (1,0 điểm)

Câu 2: (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

“[…] Đã từng có cuộc vận động quy mô cho một triệu chữ kí ủng hộ đội tuyển bóng đá nước ta, do một doanh nghiệp tài trợ và được đông đảo mọi người ủng hộ, thậm chí còn tổ chức những ngày “hội kí” rầm rộ. Có phải bạn cũng đã từng kí vào tấm băng-rôn ấy?

Vậy mà trang web ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam kia chỉ có số chữ kí 40 lần nhỏ hơn thế, mà trong đó một phần không nhỏ do công dân các nước khác tham gia. Trong khi, để kêu gọi sự quan tâm của thế giới tới các nạn nhân chất độc màu da cam, bạn chỉ cần dành ra hai phút thôi, với chỉ vài cái nhấp chuột thôi, giữa hàng giờ lướt trên internet mỗi ngày.”

(Dựa vào bài “Chúng ta có vô cảm không?”, báo điện tử TintucVietnam.com, ngày 7 – 8 – 2004)

Trình bày suy nghĩ của anh / chị sau khi đọc ngữ liệu trên. Trình bày bằng một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy kiểm tra).

Câu 3: (5,0 điểm)

Cảm nhận của bản thân về những câu thơ:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.

Non Yên dù chẳng tới miền,

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Cảnh buồn người thiết tha lòng,

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”

(Trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”, Ngữ văn 10, tập hai, NXB GD, Năm 2012, Tr.88)

——HẾT——

ĐÁP ÁN

CÂU NỘI DUNG ĐIỂM
1

(2,0 điểm)

a/ Văn bản chủ yếu sử dụng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. 0,25
b/ Kể tên hai biện pháp tu từ trong các

– So sánh: Mẹ – duy nhất / mãi mãi / ánh sáng.

– Phép điệp từ, lặp từ: một, mẹ, có nghĩa là.

– Ẩn dụ: Một ngọn đèn thắp bằng máu con tim.

– Phép liệt kê: bầu trời, mặt đất, vầng trăng,…

Lưu ý: Học sinh nêu được hai trong số các biện pháp nghệ thuật trên. (0,5 điểm)

 

 

0,5

c/ Ý nghĩa những câu thơ: “Mẹ! Có nghĩa là duy nhất. / Một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng.”: Khẳng định mẹ là duy nhất đối với mỗi người trên đời cũng như chỉ có một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng trong thế giới này mà thôi.  

0,25

d/ Viết một đoạn văn ngắn từ 5 – 10 câu trình bày suy nghĩ của bản thân về tình mẹ gợi ra từ các câu thơ “Mẹ! Có nghĩa là mãi mãi / Là cho – đi – không – đòi lại – bao giờ”

– Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cầu nêu được một số ý cơ bản:

+ Tiếng gọi “mẹ!” sẽ mãi mãi sống cùng năm tháng với người con, sẽ không bao giờ tắt được trên thế gian khi tình cảm của con vẫn luôn dành cho mẹ với niềm kính trọng, yêu thương mãi mãi bất diệt với thời gian.

+ Mẹ hi sinh tất cả vì con, cho đi chứ không bao giờ cần nhận lại. Khẳng định: Tình mẹ bao giờ cũng cao cả, lớn lao, không gì đo đếm được.

+ Mỗi người con phải sống sao để xứng đáng với công lao trời bể ấy của mẹ và không phụ lòng đấng sinh thành.

– Giám khảo cho điểm linh hoạt. Chỉ cho điểm tối đa khi bài viết có kết cấu đoạn văn hoàn chỉnh; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi ngữ pháp, dùng từ, chính tả; có thái độ chân thành, nghiêm túc khi bày tỏ ý kiến.

 

1,0

2

(3,0 điểm)

1. Yêu cầu về kĩ năng:

Dựa vào đoạn trích đã cho, học sinh bằng lời văn của mình diễn đạt thành bài văn hoàn chỉnh, nhưng đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Biết cách làm bài văn nghĩ luận xã hội (dạng đề mở).

+ Đảm bảo bài văn hoàn chỉnh, đúng yêu cầu đề (khoảng 01 trang giấy thi).

+ Bài văn chặt chẽ, diễn đạt trôi chảy, không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp. Dẫn chứng phong phú, chính xác.

2. Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng lý lẽ và dẫn chứng hợp lí, có thái độ chân thành, nghiêm túc thể hiện vấn đề. Làm rõ các ý cơ bản sau:

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Sự vô cảm của một số người trong xã hội; Sự thờ ơ, sự đắm chìm trong sở thích cá nhân mà quên đi sự khó khăn hoạn nạn của người khác;…

Lưu ý: Đây là dạng đề mở nên thí sinh có thể lựa chọn các vấn đề khác nhau để bàn luận nhưng cần gắn với văn bản đề bài đã cho.

 

0,5

– Giải thích: Từ mẩu tin, giải thích vấn đề đã nêu ra ở mở bài (vô cảm, ích kỉ; chỉ quan tâm đến nhu cầu, sự đam mê cá nhân mà thiếu quan tâm đến những người xung quanh,…)

– Bàn luận:

+ Thí sinh trình bày nhận định, đánh giá về ý nghĩa, tác dụng của vấn đề bằng cách lập luận và phân tích dẫn chứng để làm rõ vấn đề.

· Biểu hiện của vô cảm: Xuất hiện ở mọi nơi, mọi lứa tuổi, đặc biệt là trong giới trẻ ngày nay. Đó là một căn bệnh lây lan nhanh, rộng khắp mọi nơi với những biểu hiện đáng sợ (vô cảm với bạn bè, gia đình, những người xung quanh khi gặp họ gặp khó khăn, hoạn nạn,…; không giúp việc gia đình, không quan tâm sức khỏa người thân; nỗi buồn của người khác,…)

· Nguyên nhân: Thiếu sự giáo dục từ gia đình, thiếu ý thức và trách nhiệm, chạy theo lối sống thực dụng,…

+ Tác hại: Ảnh hưởng đến nhân cách; vai trò, ý nghĩa của gia đình trong đời sống của mỗi cá nhân sẽ bị giảm sút; tạo ra những công dân vô trách nhiệm, vô cảm;…

+ Phê phán lối sống đó và biện pháp khắc phục.

 

 

 

 

 

2,0

– Rút ra bài học nhận thức và rèn luyện thái độ sống đúng đắn. (Tùy từng học sinh mà có một ý kiến khác nhau nhưng vẫn phải phù hợp với ý nghĩa mà câu chuyện muốn hướng đến)

Lưu ý: Nếu học sinh có kĩ năng làm bài tốt nhưng chỉ đi sâu bàn luận vào một vài khía cạnh và có suy nghĩ riêng, hợp lí thì vẫn đạt điểm tối đa.

 

0,5

3

(5,0 điểm)

1. Yêu cầu về kĩ năng:  Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận về

một đoạn thơ; diễn đạt lưu loát, văn có xúc cảm tự nhiên, sâu sắc; đảm

bảo quy định về dùng từ, đặt câu, chính tả.

2. Yêu cầu về kiến thức:

a/ Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn trích.

 

0,5

b/ Thân bài: Học sinh có nhiều hướng phân tích khác nhau, nhưng cần

đáp ứng các ý sau đây:

* Nỗi nhớ thương da diết người chồng ở phương xa:

– Người chinh phụ nghĩ đến chồng mình đang xông pha nơi chiến trận ở phương xa, chợt nảy ra ý nghĩa: nhờ ngọn gió mùa xuân chuyển hộ tình cảm nhớ nhung của nàng tới chồng nơi biên ải xa xôi.

– Nhưng khoảng cách giữa nàng và chồng nàng là một không gian quá xa xôi cách trở, cho nên nỗi thương nhớ lại càng chồng chất trong lòng.

– Sự tương phản sâu sắc: trời thì quá xa, nỗi nhớ thương thì đau đáu, cho nên trời đâu có thấu. Các từ láy thăm thẳm, đau đáu diễn tả cám giác xót xa, cay đắng, ngầm ý oán trách.

– Hai câu lục bát cuối đoạn trích không còn là nỗi buồn vì nhớ nhung nưa mà là nỗi đau đang dâng trào lên trong lòng người chinh phụ. Ý thơ được gửi vào trong cảnh.

Thiết tha ở đây có nghĩa là đau đớn, cảnh vật đã thấm đẫm cả nỗi buồn của người chinh phụ. Câu thơ gợi đến câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

 

 

4,0

 

c/ Kết bài:

Nêu cảm nghĩ và mở rộng vấn đề.

 

0,5

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây